logo

Quang Trung Blog's

Quang Trung Blog's

Thanh Hóa Quê Choa

Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014





Quê choa Thanh Hóa đẹp tuyệt vời,
Có dòng Sông Mã lặng lờ trôi,

Có hàng tre nhỏ bao làng xóm,
Có cánh chim câu liệng giữa trời.

Ấy thế mà!

Họ bảo choa: dân ba tỷ bảy,
Họ bảo choa: dân cạy đường tàu,
Họ bảo choa: chỉ thích thịt trâu,
Chia cho dễ huân huy chương không thích.
Chuyện hàng ngày choa đâu có trách,
Cãi cọ tép, tôm khu nọ khu tê.
Một dải non sông, choa đâu muốn phân chia,
Mà họ bảo choa, thích lập vương quốc mới.
Đẩy vào đẩy ra, đẩy sang Lào không nổi,
Tức giận trở về định lập quốc gia riêng.
Cuộc đấu tranh chống giặc Mỹ thiêng liêng,
Các bô lão quê choa bắn rơi thần sét.
Họ lại bảo choa: súng trường đì đẹt,
Vớ giặc lái mù, lại lúc hết sạch xăng.
Họ lại bảo choa: ăn nói lăng nhăng,
Làm ăn lớn – thả rông cho lợn chạy.
Họ bảo choa: dân ba tỷ bảy,



Bởi làm ăn lớn nhờ sáu chữ lờ
(Lợn, Lúa, lang, luồng, lạc, lá)



Nhắc nợ hoài vẫn cứ làm ngơ,
Ruộng đất lắm, mà suốt đời tất bật.
Đào rau má mà làm cho tàu bị lật,
Cái cầu cỏn con thì bảo là to.
Bằng cái quạt mo mà gọi là cầu bố,
Còn cái đồi thông mấy cây lố nhố,
Mà cứ khoe khoang gọi đó là rừng,
Họ nói nhiều, choa đâu giám dửng dưng,
Không có lửa thì làm sao có khói,
Họ dèm pha, cũng làm mình nhức nhối.
Tự ngẫm quê mình sao vẫn cứ nghèo xơ,
Đất tỉnh Thanh – một miền đất nên thơ.
Có biển mênh mông, trải dài theo đất nước,
Rừng bạt ngàn đến tận vùng Bá Thước.
Mỏ Crôm Cổ Định trữ lượng giàu,
Hàm Rồng hiên ngang hùng vĩ những nhịp cầu,
Vẫn kiêu hãnh vắt qua dòng sông Mã,
Sông Mã nên thơ vẫn trôi về biển cả,
Đã trở thành huyền thoại đất tỉnh Thanh,
Một dòng sông nảy lửa chiến tranh.
Vùi đáy sâu biết bao tàu bay Mỹ,
Ai đã đến đất Thanh rồi nhỉ?
Có ngỡ ngàng không khi đến đất nơi này.
Thị xã tranh nghèo nay đã lắm đổi thay,
Một thành phố nguy nga và tráng lệ.
Du khách đổ về nhiều không đếm xuể,
Khao khát hè về nghỉ mát biển Sầm Sơn.
Ôi ! Sầm Sơn, còn đâu nữa đẹp hơn?
Trai, gái đến không muốn rời xa nữa,
Biển đẹp hiền hòa như vòng tay mẹ.
Giang rộng đón con ôm chặt vào lòng,
Đến đất Thanh rồi thấy có tuyệt vời không???
Những đứa con xa vẫn nhớ vẫn mong
Mảnh đất mẹ khổ nghèo nuôi lớn,
Vẫn biết mẹ trải nhiều đau đớn.
Khổ đau nhiều nên càng mới yêu nhau,
Ta càng yêu tổ quốc bao nhiêu,
Càng tự hào quê mình Thanh Hóa.

Đúng, em chia tay vì anh NGHÈO!!!

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014



Anh!
Lúc anh đọc được những dòng này cũng là lúc ta chẳng còn là gì của nhau.
Không là gì cả.
Chia tay, anh gặng hỏi: “Có phải bởi anh nghèo không?”
Em im lặng.
Đúng. Em chia tay anh bởi vì anh nghèo.
Anh đừng vội hiểu em chia tay anh bởi vì anh nghèo về tiền bạc. Không phải!
Em nói lời chia tay bởi thử anh nghèo không chỉ là tiền bạc. Đừng đánh đồng hai thứ đó với nhau.
Biết anh sinh ra trong một gia đình không khá giả gì, em vẫn yêu và chấp nhận anh, em chưa hề đòi hỏi anh phải mua cho em iphone, ipad, hay là siêu xe gì cả. Anh hãy nhớ rằng em không cần tiền của anh.
Anh quá nghèo! Anh nghèo ý chí, anh nghèo kỹ năng sống, anh nghèo tri thức. Anh chỉ nghĩ gần chứ không nghĩ xa. Anh tôn thờ một chủ nghĩa đáng nực cười là “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”. Gặp khó khăn thì anh đổ tại số, anh còn biện hộ Bill Gate còn không học hết đại học, anh nói người giỏi nhất chưa chắc đã giàu nhất, anh đổ cho gia đình anh không  thể cho anh đầy đủ…Anh không còn chú ý học hành nữa, anh nói với em, em là cuộc sống của anh, anh không cần gì cả ngoài em, Em từng băn khoăn có phải tại em mà anh như thế? Em nhầm rồi, tất cả là biện hộ cho sự lười nhác của anh. Tất cả những thứ anh cần là anh nhưng tất cả những thứ em cần không phải là anh, nó là TƯƠNG LAI!
Em có thể yêu một người “Chưa giàu” chứ không thể yêu một kẻ “mãi nghèo”.
Thứ khuyết  tật lớn nhất của con người là khuyết tật ý chí anh biết không?
Em rồi sẽ phải hối hận!
Vậy xin anh đừng chìm trong rượu và đi phượt quanh năm, suốt ngày suốt tháng nữa. Hãy để em “phải hối hận” vì mất anh chứ đừng để em phải hối hận vì đã yêu anh…
Viết những dòng này, em tự hứa sẽ không còn phải khóc nữa. Em đã nổi giận với bạn thân duy nhất khi cô ấy nói anh không xứng.
Không phải! Anh ấy xứng. Chỉ là tao và anh ấy không có duyên thôi:
“Em đã hối hận chưa?”

Em có thể yêu một người “Chưa giàu” chứ không thể yêu một kẻ “mãi nghèo” 

Đầu năm, thăm núi Muối - bay trên đại dương mây và hái sao trời

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

Sau nhiều lần săn mây bất thành, lần này anh bạn tôi hachi8 đã thành công trên đỉnh Núi Muối thuộc dãy Bạch Mộc Lương Tử- ranh giới tự nhiên giữa Lai Châu và Lao Cai. Mời các bạn dõi theo hành trình của anh bạn tôi để ngắm đại dương mây, bầu trời sao, núi tuyết và những tia nắng ấm áp mùa đông trên Bạch Mộc Lương Tử 

Trên mây đại ngàn

Đại dương mây



Những đảo núi trên trập trùng sóng mây

Lửa trại giữa thung lũng sao trời
...
" Để chụp được những bức hình này, anh bạn tôi phải ngồi đợi trong bóng tối giá rét nhiều giờ. Riêng mỗi bức hình chụp phơi sáng tới hơn 10 phút. 

lúc 1h sáng


Đường lên trời

Trên đại ngàn sóng mây


Tác giả: hachi8

Nỗi niềm trong Tuyết Sapa

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

Chiều buồn với cái lạnh cắt da cắt thịt, bật máy tính và lang thang vào Facebook xem những hình ảnh những người bạn đang trên sapa đắm chìm trong tuyết, với những nụ cười thật đẹp và một chút ghen tị, trong lòng thầm ước mình cũng đang ở bên các bạn ngay lúc này


Bổng giật mình khi thấy một cái link của một anh bạn share trên trang cá nhân là tâm sự của một bạn trẻ với cái “Tit”
"Mẹ ơi chú ý đàn bò, 'họ' còn cầu tuyết rơi nữa đấy!"  được đăng trên mục tôi viết của báo thanh niên online

Tự dưng thấy trong lòng ngậm ngùi và nhớ lại một bài thơ mình có tặng một người bạn từ hồi học cấp 3

Chiếc áo ấm nằm yên trong ngăn tủ
Giường như Đông còn lưu luyến sắc Thu
Ta cứ trách sao mùa đông đến muộn
Và ước thầm gió lạnh đến thật mau

Thư mẹ gửi có hương lúa nồng sâu
Mẹ kể chuyện ra đồng không bị cóng
Chiều gánh gồng không sợ lạnh co ro

Bổng giật mình, nhận ra mình vô lo
Thôi, áo ấm cứ nằm yên đó nhé
Cơn gió mùa hãy lao xao thật khẽ
Quê mẹ nghèo xin níu kéo mùa thu.

Chúng ta đang cầu cho tuyết rơi thêm trên cực bắc tổ quốc để được chiêm ngưỡng vẻ đẹp giống như trời âu, nhưng đâu nghĩ rằng đằng sau cái vẻ đẹp đó, đằng sau sự phần khích đó là nổi nhọc nhằn, lo toan của biết bao con người ở nơi đây, biết bao hoàn cảnh, số phận đang mong chờ vào sự thay đổi của thời tiết để ổn định cuộc sống.
Không thể phủ nhận rằng hằng năm vào mỗi mùa đông lạnh giá khi mà có tuyết rơi trên sapa, hà giang, lạng sơn … thì cũng là thời điểm nơi đây thu hút khá đông khách du lịch từ khắp nơi đổ về tạo nên một nguồn thu nhập cho cư dân sống ở đây, khách sạn, nhà hàng được đặt kín chổ, xe khách, taxi nườm nượp chở khách, nhưng liệu cái lợi này có đến được với những người dân bản ở những nơi heo hút hay không, khi mà họ đang phải chịu đựng cái giá rét cắt da cắt thịt trong sự thiếu thốn vật chất.
 Anh em ta từng làm những chuyến từ thiện cho đồng bào vùng cao, hướng tới những cuộc sống nhọc nhằn, vất vả mà vẫn thiếu thốn từng manh áo của học sinh vùng cao, nhưng hình như chúng ta đang mong muốn những điều gì đó gọi là phù phiếm mà nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới miếng cơm, manh áo của chính những người dân nghèo, đành rằng chúng ta là những con người yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp của thiên nhiên trên đất nước chúng ta, đó là cái đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng, chúng ta phải biết chiêm ngưỡng và gìn giữ phải chăng chúng ta đang làm những việc từ thiện vô nghĩa khi mà chúng ta còn mong muốn những điều tạo nên tiếng cười sự hào hứng đắm chìm trong tuyết của chúng ta để đằng sau đó biết bao người đang phải đau lòng, và bao người đang phải khóc vì sự thiệt hại cả về vật chất và con người khi có những trận tuyết rơi.
Chúng ta mong muốn những điều mang tới sự mất mất và đau  thương cho họ để rồi chúng ta lại đi làm từ thiện, ủng hộ liệu điều đó có mâu thuẫn chăng, điều đó có phải là cái danh hảo để chúng ta đang  hướng tới.

 Cảm ơn đời khi cho chúng ta một cuộc sống nơi đô thị, tạm ổn về vật  chất, và khi chúng ta dư dật một chút về thời gian và tiền bạc, chúng ta nghĩ tới những con đường để khám phá bản thân, và những vùng đất mới mẻ để khám phá, điều đó thật thú vị và càng ý nghĩa biết bao khi hơn nữa chúng ta đã kết hợp được những chuyến đi để đến với đồng bào vùng cao đang chịu khó, chịu khổ vì thiếu thốn về vật chất, và cả về tình cảm của đồng bào miền xuôi, san sẽ một chút tình đồng bào, chúng ta đem tới đó từng chút muối, chút cá,… là sản vật của vùng biển, từng tấm áo cho lũ trẻ con,… và rồi được hưởng chút sản vật của núi rừng cùng đồng bào vùng cao, một chút măng rừng, rau rừng, ngồi nhâm nhi chén rượu nồng ấm tình dân tộc, để lại những tiếng cười cho lũ trẻ ở nơi đây và cùng cầu mong cho đồng bào sẽ thoát được cảnh đói nghèo, vất vả nhọc nhằn để rồi chúng ta mãi mãi sẽ nhớ về nơi ấy.
Quang Trung
20/12/2013

Nóc nhà Đông Dương - Đam mê chinh phục của tuổi trẻ

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Biết tới Fansipan từ đã lâu qua sách vở nhưng quả thực để chinh phục ngọn núi này là điều mà từ lâu vẫn là điều mong ước của tôi
Để tới được chân dãy núi Hoàng Liên Sơn chúng tôi phải qua thành phố Sapa huyền ảo của sương mù

Băng rừng, lội suối

Ngồi nghỉ chút đã



Cùng chiếc xe đạp đồng hành lên đỉnh Fan nào 


Và cuối cùng tôi cũng đã được vác chiếc xe đạp trên nóc nhà Đông Dương




Một chốn địa đàng nơi trần thế

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011

Vườn hồng Val de Marne, còn gọi là vườn hồng L'Hay les Roses vì nằm trong thành phố có tên này, ở ngoại ô Paris là một điểm tham quan thú vị cho những ai yêu thích hoa cỏ, đặc biệt là hoa hồng.

Được lập từ thế kỷ 19, đến nay, vườn có chừng 3.200 loại hoa hồng khác nhau, với khoảng 13.000 cây. Vườn này là thành viên đầu tiên của hiệp hội hoa Hồng thế giới và cũng là thành viên của tổ chức Bảo tồn các giống cây chuyên biệt của Pháp.


Ngay cổng vào của vườn, cạnh một trạm xe buýt, ta đã thấy rất nhiều hoa hồng quấn quít bên hàng rào và trên thảm cỏ trên lối đi vào. Tại đây, mùi hương đã ngào ngạt, đặc biệt là vào buổi sáng.


Vườn mở cửa cho khách tham quan từ đầu tháng năm cho đến giữa tháng chín. Tuy nhiên, đẹp nhất là vào khoảng giữa tháng năm đến giữa tháng sáu, khi hoa nở nhiều nhất. Ta có thể gặp ở đây từ những loại hồng nguyên bản cổ xưa với màu nhã nhặn...


… hay vô cùng rực rỡ


… đến những loại hồng hiện đại, vượt xa sức tưởng tượng thông thường


… trong muôn vàn hình dáng và kích cỡ khác nhau.


Tùy vào đặc tính, các cây hoa có thể đứng độc lập hoặc được kết thành từng khối lớn


… hoặc tựa vào các khung đỡ


… hay dây thép


… và các mái vòm rất đẹp trên các lối đi.


Trong vườn cũng có một số tác phẩm điêu khắc. Chúng được đặt lộ thiên


… hoặc dưới các mái che râm mát của giàn hoa


Thật thú vị vì ta bắt gặp dưới một mái vòm nhỏ bức tượng thần Tình Yêu


… và ở một góc vườn là chân dung bằng cẩm thạch trắng của Jules Gravereaux, người sáng lập khu vườn.


Cũng có một số ghế đá để du khách tạm nghỉ chân và thảnh thơi nhìn ngắm.


Tuy diện tích không thật lớn, nhưng đi dạo ở nơi này, thỏa thuê nhìn ngắm và hít đầy lồng ngực hương hoa ngọt ngào, không ít người đã ví nơi đây là một vườn địa đàng nơi trần thế.

Cả thế giới nghi ngờ người Mỹ có lên Mặt trăng thật không?

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

20% người Mỹ được hỏi không tin rằng người Mỹ đã từng lên Mặt trăng và cho rằng đây chỉ là một vụ bịp bợm lớn.

Cho đến nay, có lẽ ai cũng đinh ninh rằng Mỹ đã thắng Liên Xô trong cuộc chạy đua lên Măt trăng. Phi công vũ trụ Neil Amstrong là người đầu tiên đặt chân lên đó.

Từ con tàu bước ra, anh đã nói một câu nổi tiếng làm cả thế giới xúc động, rằng “đây là một bước nhỏ của một con người nhưng là một bước đi khổng lồ của nhân loại”. Mọi sự đều như hết sức rõ ràng.

Nhân ngày Vũ trụ quốc tế, người ta xới lại vấn đề này. Một cuộc thăm dò lại cho thấy ngay trên đất Mỹ, 20% số người được hỏi không tin rằng người Mỹ đã từng đặt chân lên Mặt Trăng. 20% là một tỷ lệ khá cao. Những người này cho rằng chẳng phải Amstrong hay bất cứ ai khác đã đổ bộ lên Mặt trăng, mà đó chỉ là một vụ bịp bợm lớn.


Hình ảnh Amstrong trên Mặt trăng.
Quả thật khi nghiên cứu các sự kiện trong Chương trình Mặt trăng sẽ phát hiện những vấn đề khó giải thích một cách thuyết phục trong khuôn khổ những giả thuyết quen thuộc về một chuyến bay lên Mặt trăng.

Từ năm 1970, tại Mỹ đã xuất bản cuốn sách của J. Krainy “Có thật con người đã đặt chân lên Mặt Trăng không?”, và năm 1976 nhà văn Mỹ Bill Keysing cũng cho phát hành một cuốn sách tựa đề “Chúng ta chưa bao giờ lên Mặt Trăng”.

Sau đó tại những nước khác nhau trên thế giới những phân tích về vấn đề này được đưa ra ngày càng nhiều với những lý lẽ khó bác bỏ của những người không tin vào những tuyến bố chính thức về thành công của Chương trình Mặt trăng của Mỹ. Trong một bài không thể trình bày tỉ mỉ tất cả mọi lý lẽ người ta đã đưa ra mà chỉ có thể tóm tắt những ý chính.

1. Khi các nhà du hành vũ trụ cắm lá cờ trên Mặt trăng, nó bay phấp phới thật sinh động. Rõ ràng gió thổi khá mạnh. Điều này cực kỳ vô lý. Bởi ai cũng biết rằng trên Mặt trăng không hề có khí quyển. Vậy thì gió ở đâu ra. Đã thế, trên hai tấm ảnh của cùng một lá cờ do NASA công bố, bóng của nó trên một tấm ở bên trái, tấm kia ở bên phải.

2. Luồng khí nóng từ động cơ phun lúc hạ cánh phải thổi rất mạnh, đương nhiên nó sẽ làm tung lên một đám bụi hình phễu ngay lại địa điểm con tàu đỗ xuống. Thế nhưng trên những bức ảnh do NASA công bố không hề thấy hiện tượng này. Bề mặt Mặt trăng vần phẳng lỳ, không một vết lõm.

3. Trong điều kiện trong lực của Trái đất, nhà du hành cùng bộ quần áo bay của anh ta có khối lượng lên tới 160 kg. Còn theo tính toán, trên Mặt trăng con số đó chỉ còn là 27 kg thôi. Vậy vì sao các nhà du hành không thể hiện các bước nhảy bật rất cao do sức hút của Mặt trăng chưa bằng 1/5 so với Trái đất? Bước nhảy trong video clip không cao quá 45 cm, chẳng khác gì khi đi trên bề mặt địa cầu. Vì sao vậy?

4. Trong các bức ảnh về phong cảnh Mặt trăng, ánh sáng rất không đồng đều. Kiểu ánh sáng như vậy là tính chất điển hình của việc dùng đèn chiếu chứ không phải ánh sáng tự nhiên.

Có một số lý do khác nữa được coi là gián tiếp. Ví dụ, Mỹ tuyên bố đã đưa tàu Apollo lên vũ trụ bằng tên lửa chuyên chở khổng lồ “Saturn-5”. Chỉ 20 năm sau, Liên Xô mới chế tạo được tên lửa nổi tiếng “Energia” có những tính năng về chuyên chở tương tự. Không lẽ Liên Xô vốn đang chiếm ưu thế về tên lửa so với họ, bỗng nhiên bị họ “qua mặt” tới 2 thập kỷ?

Lại nữa, sau khi thực hiện được Chương trình Mặt trăng, vì sao tên lửa “Saturn-5” của họ chỉ được dùng một lần duy nhất – phóng tàu vụ tru “Skylab” vào năm 1973. Loại tên lửa độc đáo đó của Mỹ nếu quả là có thật tại sao họ lại vội vã đình chỉ việc sản xuất ra chúng và 3 chiếc đã chế tạo phải lập tức bị đưa vào Viện bảo tàng?

Điều ngạc nhiên nữa là vì sao học phải dùng một chiếc xe đi trên Mặt trăng to lớn và nặng nề đến vậy, trong khi sức hút của Mặt trăng nhỏ hơn sức hút của Trái đất nhiều lần? Chúng ta hãy nhớ rằng đưa một vật thể vào vũ trụ, người ta phải cân nhắc đến từng gam, vì thêm mỗi một kg có nghĩa là phải bỏ thêm cả một số kinh phí khổng lồ.



Tên lửa chuyên chở “Saturn-5” (phóng lên tại “Sân bay vũ trụ”mang tên Kennedy).
Nói chung rất nhiều vấn đề, có đầy đủ cơ sở để nghi ngờ Chương trình Mặt trăng của Mỹ. Có ý kiến khẳng định người Mỹ chưa bao giờ lên Mặt trăng, lại có ý kiến cho là chuyến bay lên Mặt trăng đầu tiên ấy của họ chỉ là bịa đặt, sau đó, thì họ cũng lên được Mặt trăng thực sau này. Loại ý kiến thứ ba lập luận: Mặc dù Chương trình Mặt trăng của Mỹ được phủ vòng nguyệt quế nhưng tuyệt nhiên không xứng đáng. Tất cả những hình ảnh, quay phim đều thực hiện trên Trái đất.


Báo Komsomolskaia Pravda đã gặp nhà văn nổi tiếng Andrei Pashev để hỏi về chuyện này, thì ông nói: “Тôi đã từng tham gia vào cuộc tranh luận về chuyến bay lên Mặt trăng của Mỹ. Những ý kiến không tin là người Mỹ đã lên Mặt trăng không phải xuất phát từ Liên Xô trước đây. Người ta lúc đó chỉ dựa trên tính phiêu lưu và không tưởng (với trình độ khoa học lúc đó) của chương trình này”.

“Ví dụ, chính Khrushev đã, tuyên bố, chúng ta sẽ không tham gia vào cuộc chạy đua lên Mặt trăng, vì điều đó vô cùng rủi ro.Trong lịch sử của ngành du hành vũ trụ Xô Viết đã có những trường hợp chỉ vì việc tiếp xúc giữa bộ phận chỉ huy dưới mặt đất và con tàu chỉ trục trặc trong giây phút một con tàu đã lệch ra khỏi quỹ đạo và chuyến bay bị thất bại. Huống hồ xa như Mặt trăng.

Trước những dẫn chứng quá sắc bén trong cuộc tranh cãi về Chương trình Mặt trăng của Mỹ, NASA đã buộc phải đứng ra thừa nhận rằng, để minh họa việc hạ cánh của con tàu Apollo trên Mặt trăng, họ đã phải dùng những clip video và ảnh chụp không liên quan đến chuyến bay thực sự. Một số vấn đề được đưa lên trên các phương tiện truyền thông đúng là những bức ảnh chụp khi luyện tập, sở dĩ họ đưa ra vì nó rất giống với cảnh thực trên Mặt trăng.

Song họ mới đề cập đến sự bịa đặt của các đoạn phim và ảnh chụp. Những vấn đề khác họ chưa giải thích được và cũng không xin lỗi. Một vài chuyên liên quan cũng dần dần lộ ra. Chẳng hạn, chuyện thất lạc những tài liệu khi Apollo hạ cánh. Lại còn chuyện những viên đá cuội mà các phi hành gia lượm từ bề mặt của Mặt trăng đã đem tặng các bảo tàng châu Âu, được biết NASA cũng đã bị thanh minh là họ “nhầm” với viên đá của Trái đất chứ không có cố ý.

Thông điệp từ một đêm trăng!

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Tôi đã nghe được thông điệp ấy và tôi nghĩ là mình nên chuyển tiếp thông điệp ấy cho người khác. Tai hoạ sẽ giáng xuống đầu chúng ta bởi chính tội lỗi của chúng ta. Dù chúng ta vẫn ngày ngày đọc lời biện minh cho những tội lỗi ấy.
Đêm qua tôi chợt tỉnh giấc. Ngay lúc đó tôi nhận ra căn phòng tôi ở tràn ngập ánh trăng. Tôi ngồi dậy đến bên của sổ. Đêm nay có lẽ sắp rằm. Trăng tròn quá và trong quá. Đây là lần đâu tiên tôi nhìn trăng trên bầu trời từ một xứ sở xa lạ. Vầng trăng có gì khác khi tôi nhìn từ nơi này ? Không có gì khác cả. Chỉ có nỗi nhớ cố hương từ nơi này trong một đêm trăng im ắng. Và lúc đó, tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Việt Phương:

Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ.

Thật đau đớn. Nhà thơ đã nói đúng nỗi đau đớn ấy của chúng ta. Tại sao chúng ta lại có những năm tháng như thế? Tại sao? Dù có trả lời được thì tôi vẫn cứ phải hỏi tại sao? tại sao?. Vầng trăng, một biểu tượng của cái đẹp. Cái đẹp không thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nào, của một quyền lực nào.

Khi một quyền lực nào đó định chiếm hữu cái đẹp thì cái đẹp biến mất. Cái đẹp ấy luôn luôn ở trên mọi quyền lực, toả sáng chúng ta, ngự trị chúng ta và cứu rỗi chúng ta. Tôi ngắm trăng từ một nơi rất xa. Và những người thân của tôi ngắm trăng từ mảnh đất quê hương tôi. Chúng tôi cùng nhận ra vẻ đẹp ấy và cùng chiêm ngưỡng. Tại sao chúng ta lại có những tháng năm như thế. Và tại sao chúng ta lại không nói như thế về những tháng năm tương tự của chúng ta.

Sau chuyến đi xa đầu tiên trở về, tôi về quê đúng dịp rằm trung thu, tối qua nhà cậu bạn thân chơi.

em gái của cậu bạn tôi, một cô bé mới gần mười tuổi, hỏi :

- Ở đó có rằm trung thu không hả anh ?

- Không có đâu em à. Nhưng họ cũng có trăng.

- Trăng của họ thế nào hả anh?

- Cả thế giới này chỉ có một vầng trăng thôi em.

- Trăng đang ở giữa làng mình, xa thế mà họ cũng nhìn thấy à anh ?

- Khi trăng đang ở trên đầu mình thì nhiều nơi khác cũng thấy trăng trên đầu họ.

- Lạ quá anh nhỉ!
Tôi chỉ nói đến đó với cô bé thôi. Bởi lúc đó, tôi nhận thấy gương mặt cô bé có vẻ tư lự. Cứ như đang suy tư tới một điều gì đó. Câu trả lời của tôi như vậy đã hoàn thành.
Tôi có đọc một truyện ngắn ở đâu đó có tên : Chạy Trốn Khỏi Vầng Trăng. Chuyện kể về một người đàn bà goá chồng bởi chiến tranh. Chị cố trốn chạy khỏi tình yêu của một người đàn ông giành cho chị. Nhưng đêm đêm, vầng trăng lại mọc trên đỉnh đồi trước nhà chị. Trăng đẹp quá và chị không chịu nổi sự cô đơn và một điều gì đó thức dậy trong lòng chị. Chị không thể thờ ơ trước những điều kỳ diệu trong đời sống. Chị lao theo tiếng gọi của tình yêu. Nhưng những lời thị phi và phẩm hạnh phong kiến như đám mây đen trong khoảng khắc nào đó lại che khuất vầng trăng trong lòng chị.

Nhưng trăng lại hiện ra, lại toả sáng lộng lẫy, và chị lại lao ra khỏi nhà, vừa chạy chị vừa khóc trong hạnh phúc, trong đau đớn dằn vặt. Chị muốn có hạnh phúc, nhưng chị sợ hãi. Chị nghĩ : chỉ có một con đường là chạy trốn khỏi vầng trăng. Nghĩa là phải chạy trốn khỏi cái đẹp. Chị bỏ nhà vào sống trong hang núi tối tăm. Nhưng cái đẹp đã ở trong tâm hồn chị, vầng trăng luôn luôn ngự trị trong tâm hồn chị. Bởi thế, với những người như chị, càng ở trong tăm tối nó càng toả sáng rực rỡ.

Mùa hè năm ngoái, trong một lần về quê, đêm ấy tôi ngồi uống trà cùng cha tôi ngoài sân rất khuya. Làng quê trong đêm trăng yên tĩnh trở nên huyền bí và mênh mang vô tận. Trăng vằng vặc trên sân nhà soi rõ cả những con kiến lang thang trong đêm. Thi thoảng, những ngọn gió mùa hạ từ cánh đồng thổi về làm xôn xao những vòm lá trong vườn. Cả vòm cây lấp lánh như dát vàng.

Và trong những cơn gió thổi về, tôi nghe tiếng cuốc từ cánh đồng xa buồn bã. Lâu lắm rồi tôi mới lại nghe tiếng cuốc. Có những năm tháng dài, những con cuốc không biết đi đâu. Tôi hỏi thì cha tôi bảo người ta săn bắn chim chóc nhiều quá đến chẳng còn một con nào. Nhưng đêm ấy, tôi lại được nghe cuốc kêu. Tiếng cuốc kêu đều đều suốt đêm. Kêu như lời của một kẻ tri âm. Kêu như một nỗi buồn đau dằng dặc. Kêu như đang xé từng mảnh phổi của mình. Kêu như những bước chân tiến dần về cái chết. Kêu như nỗi oan ức của mọi thời đại. Và kêu...

Hai cha con tôi ngồi im lặng trong đêm trăng của làng quê. Cha tôi lúc đó đã ngoài sáu mươi tuổi. Tôi cũng đã ba mươi tuổi. Cả hai người đàn ông ấy đã đủ thời gian sống để biết im lặng. Bỗng cha tôi quay về phía tôi và nói : Nếu sau này anh có tiền thì xây một trái nhà lên hai ba tầng, thành phố loạn lạc thì vợ chồng con cái về làng mà ở, nếu nước lớn thì có nơi mà chạy nước. Anh cố mà làm sớm, con ạ.

Khi cha tôi vừa nói xong thì tôi cảm thấy một luồng khí lạnh tràn qua người tôi. Cha tôi là một người nông dân, sau này tham gia cách mạng, làm cán bộ công chức nhà nước và về hưu, nhưng bản chất cha tôi vẫn là một người nông dân. Tôi chưa bao giờ nghe cha tôi nói những điều như vậy. Cha tôi không có ngôn ngữ ấy. Cái ông thường xuyên nói, nói cả đời là đạo làm người. Ông nói một cách đơn giản và cụ thể. Những gì ông nói từ trước tới giờ không ngoài những việc cụ thể hàng ngày và với những người cụ thể trong làng, trong họ và trong gia đình.

Câu nói của cha tôi đêm ấy là một thông điệp. Ai đó từ chốn cao xanh đã mượn cha tôi, một người già sáu mươi hai tuổi, để truyền đi thông điệp ấy chăng?. Sẽ có một thay đổi lớn lao hay một sự bất trắc khủng khiếp trong đời sống của chúng ta chăng? Có, tôi tin là có. Con người sẽ phải chịu những hậu hoạ khủng khiếp do chính con người gây ra.

Khi cha tôi đi nằm vì ngồi lâu ông thấy đau lưng, tôi ngồi một mình giữa sân nhà giàn dụa ánh trăng. Những con kiến vẫn đi. Lúc nào những con kiến cũng vội vã. Chúng đi không ngưng nghỉ từ lúc sinh ra cho tới lúc chết. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy lũ kiến ngủ. Ngày còn bé, tôi hỏi mẹ: Mẹ ơi, những con kiến không ngủ hở mẹ? Mẹ tôi không trả lời được câu hỏi của tôi.

Tôi ngôì im lặng trong tiếng cuốc kêu đều đều từ cánh đồng xa vọng về. Tôi đã kể câu chuyện về cha tôi cho một số người nghe. Nhưng tôi biết chỉ một hai người trong số đó suy nghĩ về câu chuyện ấy. Những người khác nghĩ tôi lãng mạn, nghĩ tôi bị bệnh tâm thần trong một giây khắc nào đó, nghĩ tôi là kẻ tuyệt vọng và có thể là kẻ hão huyền. Tôi không đợi chờ lòng tin của họ vào câu chuyện ấy. Nhưng với tôi, đó hoàn toàn là một thông điệp. Tôi đã nghe được thông điệp ấy và tôi có nghĩa vụ chuyển tiếp thông điệp ấy cho người khác. Tai hoạ sẽ giáng xuống đầu chúng ta bởi chính tội lỗi của chúng ta. Dù chúng ta vẫn ngày ngày đọc lời biện minh cho những tội lỗi ấy.

Đã một lần cha tôi nói về việc xây dựng nhà cửa. Đó là đầu những năm 2000, khi tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhận được thư cha tôi. Trong thư có đoạn : Bố vừa mới xây xong được trái bếp, để sau này bố có mất đi thì anh có chỗ nà đun nấu. Tôi đã rơi nước mắt khi đọc đến đoạn ấy.

Cha tôi đi thoát ly gần bốn mươi năm rồi về hưu. Ông trở về làng vì đấy là nguyện ước của ông. Nếu ở lại thành phố ông cũng không có một nơi nào để ở. Khi về hưu, ông được tặng một chiếc tủ đựng quần áo đánh vécni vàng như bôi nghệ có lẽ đóng bằng gỗ gạo, một loại gỗ mà tôi gọi là "gỗ giả dối" vì hầu như nó chẳng dùng được vào việc gì. Sau hai năm, chiếc tủ bị mọt gần hết. Cha tôi ngậm ngùi chẻ ra làm củi đun nhưng chỉ có khói mù mịt mà không có lửa. Sau này, những người khác làm quan quá sung sướng. Những người về hưu tay trắng như cha tôi tự an ủi: mình hy sinh làm cách mạng cho thế hệ sau sung sướng mà.

Đúng, thế hệ những người cách mạng như cha tôi đã mang lại lòng tin bất diệt cho nhân dân. Tôi khó có thể tìm được những người cách mạng như thế sau thế hệ cha tôi. Vì thế khi về hưu, ông bắt tay nuôi lợn nái và giành dụm tiền nong để tám năm sau ông mới có cơ hội xây được gian bếp tạm tươm tất. Và ông hạnh phúc.

Công việc xây dựng nhà cửa của cha tôi gần hai mươi năm trước là công việc chuẩn bị cho điều kiện sinh hoạt. Còn ý định xây dựng nhà cửa của cha tôi gần hai mươi năm sau là thông điệp về những tai hoạ của kiếp người một ngày nào đó có thể giáng xuống.

Nhà tiên tri Vanga

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

2010 Chiến Tranh Thế Giới Thứ 3 Bùng Nổ

Lời tiên đoán thần thánh của nhà tiên tri Vanga lừng danh thế giới


Nhân loại liệu có đứng trước một thảm họa nữa không khi nhà tiên tri lừng danh thế giới - Baba Vanga dự đoán Chiến tranh Thế giới Thứ 3 sẽ nổ ra vào năm 2010. Nếu như trước kia ít ai để ý thì trong bối cảnh suy thoái kinh tế như hiện nay, ai cũng hiểu một cuộc chiến tranh thế giới nổ ra có thể thiết lập lại một trật tự thế giới mới một cách toàn diện và triệt để. Vậy phải chăng tiên đoán của Vanga sẽ trở thành hiện thực?



Hồi sinh ra từ cát bụi:

Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời ở vùng hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Vanga mất thị lực năm 12 tuổi sau khi bị cuốn đi bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát. Vanga làm bạn với bóng tối từ đó. Lời tiên tri đầu tiên của Vanga được ghi nhận là vào năm bà 16 tuổi. Bà giúp cha mình tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc. Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả “kẻ hủy diệt” Adolf Hitler. Hitler từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu.


Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực. Vanga trở nên nổi tiếng vì những tiên đoán “thần thánh” của bà về những thảm họa toàn cầu. Độ chính xác của những lời tiên tri này khiến loài người giật mình hoài nghi: Liệu có thực sự tồn tại một thế lực siêu nhiên? Biết bao giấy mực đã cất công nghiên cứu để giải đáp về “bí ẩn Vanga”.



Ví dụ, Vanga từng tiên đoán về vụ tấn công khủng bố ngày 11/9 ở Mỹ, khi bà nói rằng “người Mỹ sẽ ngã xuống dưới sự tấn công của những con chim sắt”. Nhà tiên tri cũng dự đoán chính xác sự bùng nổ Đại chiến thế giới thứ 2, cải tổ kinh tế chính trị ở Liên bang Xô Viết cũ, cái chết của công nương Diana và thậm chí vụ chìm tàu ngầm nguyên tử Kursk.



Năm 1980, nhà tiên tri mù nói rằng: “Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, tháng 8 năm 1999 hoặc năm 2000, Krusk sẽ ngập chìm trong nước, cả thế giới sẽ đau buồn về điều này”.. Ở thời điểm đó, người ta không mấy bận tâm đến lời tiên liệu trên. Tuy nhiên, 20 năm sau, loài người đã phải sững sờ kinh ngạc. Một tàu ngầm nguyên tử của Nga gặp nạn tháng 8/2000. Toàn bộ thủy thủ đoàn bỏ mạng dưới đáy đại dương. Và kỳ lạ thay, con tàu xấu số được đặt theo chính tên thành phố Krusk.



Các chuyên gia thấy rằng nhà tiên tri huyền thoại này đã đưa ra những cảnh báo chính xác về các sự kiện liên quan đến căng thẳng vũ trang ở Nam Ossetia. Vanga nói chiến tranh thế giới thứ ba là hệ quả tất yếu của sự đấu tranh sinh tồn giữa bốn người đứng đầu các chính phủ và sự xung đột của những người theo đạo Hindu. Nhân loại liệu có đứng trước một thảm họa nữa không khi Vanga dự đoán chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ nổ ra vào năm 2010.



Cuộc đời là những thước phim:



Vanga không biết chữ, bà cũng chưa từng viết một cuốn sách nào. Giọng nói của bà rất khó nghe và nặng thổ ngữ. Những gì Vanga nói hoặc được cho là do bà tiên đoán chủ yếu được ghi chép lại bởi những người xung quanh bà. Sau này, vô số những quyển sách bí truyền về cuộc đời và những tiên đoán của Vanga đã được viết ra.



Theo Vanga thì khả năng phi thường của bà liên quan đến sự hiện diện của những sinh vật vô hình, dù bà không thể giải thích rõ ràng nguồn gốc của chúng. Những sinh vật đó cho bà thông tin về con người. Cuộc sống của tất cả mọi người đứng trước bà hiển hiện giống như những thước phim từ lúc sinh ra đến khi nằm xuống. Tuy nhiên bà không có quyền năng thay đổi số phận.



Vanga từng dự đoán về những đứa trẻ mới chào đời và cả những sinh linh chưa ra đời. Bà cũng tuyên bố rằng bà đang “nhìn thấy” và “nói chuyện” với những người đã chết cách đây hàng trăm năm. Vanga thậm chí bảo rằng những người ngoài hành tinh đã đang sống trên trái đất từ rất lâu rồi. Họ đến từ những hành tinh mà ở đó dùng thứ ngôn ngữ Vamfirm.



Những người theo Vanga tin rằng bà biết chính xác ngày chết của mình. Và chỉ không lâu trước ngày đó, bà nói có một cô bé tóc vàng 10 tuổi sống ở Pháp sẽ thừa hưởng những khả năng trời phú của bà, và rằng loài người sẽ sớm tìm ra cô bé đó.



Những lời tiên đoán kinh hoàng về tương lai:



Theo lời của Vanga, trong tương lai không xa sẽ xảy ra các vụ mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ. Những cuộc xung đột ở Indostan (phần đất ở Nam Á bao gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng) sẽ là một trong những nguyên nhân chính mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới thứ 3.



Năm 2010

-


Năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3: Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học.



Năm 2011 - Không một loài động vật, thực vật nào ở Bắc bán cầu có thể sống được do kết quả của quá trình lắng cặn chất phóng xạ. Tiếp đó, những người Hồi giáo (người theo Đạo Hồi) sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh hóa học chống lại người Châu Âu.



Năm 2014 - Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.



Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống.



Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.



Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi.



Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.



Năm 2028 - Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.



Năm 2033 - Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.



Năm 2043 - Nền kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.



Năm 2046 - Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.



Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.



Năm 2076

- Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.


Năm 2084

- Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên.

Năm 2088 - Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây!!!”.



Năm 2097 - Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.



Năm 2100 - Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.


Năm 2111 - Con người sẽ trở nên kiệt sức.


Năm 2123 - sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.



Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.



Năm 2130 - Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.



Năm 2164

- Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú).


Năm 2167

- Xuất hiện tôn giáo mới.

Năm 2170 - Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.



Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.



Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.



Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau.



Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.



Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.



Năm 2256 - Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.



Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.



Năm 2271 - Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.



Năm 2273 - Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.



Năm 2279

- Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.


Năm 2288 - Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.



Năm 2291 - Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.



Năm 2296 - Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng.



Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.



Năm 2302

- Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.

Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng



Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.



Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.



Năm 2371 - Xẩy ra nạn đói lớn.



Năm 2378 - Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.



Năm 2480

- Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau, Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.


Năm 3005 - Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.



Năm 3010 - Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.



Năm 3797 - Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác.

Quang Trung tổng hợp từ internet

Hậu Chí Phèo (tập 1 - tập 6)

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2008

Tập 1

Sau khi đánh chết Bá Kiến trong một cuộc ẩu đả tưng bừng trước nhà Chị Dậu, Chí Phèo nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của làng Vũ Đại, được đông đảo dân chúng ủng hộ hết mình. Kết thúc trận kịch chiến ấy, Phèo từ một tay bợm nhậu bỗng chốc biến thành người hùng. Trong mắt dân chúng, kể cả một số kẻ thù xưa của Phèo, hắn là một trang hảo hán, là người soi đường chỉ lối.

Trên cương vị mới, Phèo bắt đầu tận hưởng hương vị chiến thắng và thi hành chính sách chăn dân do người anh lớn cai quản làng bên là Lão Hạc tư vấn. Đối với đám bạn nhậu đầu trộm đuôi cướp thuở xưa, ai biết điều thì Phèo cất nhắc lên các vị trí như phụ trách phòng sưu thuế, chỉ huy đội trị an hoặc ít ra cũng cầm loa, gõ mõ. Ai bướng thì Phèo cho vào hợp tác xã, suốt ngày bán mông cho trời, bán mặt cho đất. Đám dân chúng ủng hộ Phèo cũng không khá hơn. Tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã. Họ làm lụng quần quật suốt ngày, không còn thời gian để suy nghĩ, thành ra não bộ và lá gan họ teo tóp đến thảm hại.

Đối với tàn quân của Bá Kiến thì khỏi phải nói, Phèo triệt tận gốc. Sợ quá, lũ này di tản sang các làng lân cận. Kẻ không chạy được thì đành ở lại làng Vũ Đại, ngậm đắng nuốt cay như chú hổ bị gã thợ săn Thế Lữ nhốt trong cũi sắt chờ ngày lên bếp lò để hóa thân thành cao hổ cốt.

Chính sách của Phèo thế mà hay. Dân làng Vũ Đại nghe răm rắp. Vì sợ. Khi không đám cận thần của Phèo chỉ đánh rắm một phát cũng có khối người nôn mật xanh mật vàng, chết không kịp ngáp. Làng Vũ Đại tuyệt đối an bình là vì thế.

Nhưng cùng với thời gian, Phèo đối mặt với nhiều mối lo mới. Nhờ tiếp xúc với các làng xã văn minh hơn, đám dân đen Vũ Đại ngày càng khôn ra. Một bộ phận trong số họ vẫn tin Phèo vô điều kiện như con cái tin cha mẹ, nhưng không ít người bắt đầu nghi ngờ Phèo, họ mày mò tìm hiểu bản chất lưu manh trong con người hắn ta. Đám cháu chắt Bá Kiến trong và ngoài làng cũng dần dà tìm cách ngóc đầu dậy. Thậm chí đôi lúc chúng đi lại nghênh ngang, đánh rắm một cách công khai mà chẳng hề nể sợ ai hết. Phèo tức lắm, hắn tìm đủ mọi cách để lập lại trật tự. Hắn vận dụng mọi ngón nghề của một bợm nhậu: đập bàn, dằn ly, xô ghế, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phèo còn vận thêm mấy chiêu mà người anh lớn là Lão Hạc tư vấn như siết cổ, bịt mồm, bóp mũi. Nhưng chẳng ăn thua.

Giữa lúc tình hình làng Vũ Đại đang nước sôi lửa bỏng, Phèo đang nghiến răng trợn mắt thì Lão Hạc lại xuất hiện cùng mấy con vàng của lão. Lâu nay, cứ mỗi lúc Phèo gặp khó khăn là Hạc ta lại dẫn chó tới để tư vấn cho Phèo cách giải quyết, tất nhiên là có lệ phí hẳn hòi. Lúc thì lão mượn vài cô gái đẹp về đấm lưng, lúc khác lại xin dăm cặp gà tơ về nhắm rượu. Nhưng lần này khác, Hạc ta sấn tới và chẳng nói chẳng rằng lùa nguyên cả bầy trâu của làng Vũ Đại về. Phèo ức, nhưng nhìn lũ vàng nhe nanh trợn mắt của Lão Hạc, hắn ta hồn vía lên mây.

Phèo sợ, nhưng đám dân đen thì không. Họ kéo nhau ra cổng làng Vũ Đại, bắc loa mồm chửi Lão Hạc om sòm. Cả đám con cháu Bá Kiến trong và ngoài làng cũng nổi máu địa phương, đồng tâm hợp lực chửi rủa, rên xiết. Dàn đồng ca Vũ Đại càng hát càng khí thế. Phen này Lão Hạc già nua kia chỉ có đường thủng màng nhĩ mà thôi. Muốn yên thì hãy trả trâu.

Quả thực chưa bao giờ làng Vũ Đại chứng kiến một sự đoàn kết keo sơn đến thế. Khi máu địa phương, lòng tự tôn làng xã nổi dậy, lũ dân đen thật thà, đám bợm nhậu bị thất sủng, một vài kẻ có lương tâm trong số cận thần của Phèo cùng tàn quân Bá Kiến đã dẹp bỏ bất đồng để hướng mũi tấn công về kẻ thù chung có tên là Lão Hạc. Đây cũng là cơ hội vàng cho Phèo ta chấn hưng dân khí, củng cố sức mạnh địa phương, xây dựng tinh thần đoàn kết để đưa làng Vũ Đại tiến lên một tầm cao mới.

Thế nhưng, một mặt do quá khiếp nhược, sợ đám dân đen làm mếch lòng anh Hạc thì nguy to, mặt khác do sợ các thế lực Bá Kiến thuở xưa trỗi dậy và lo rằng dân chúng học được cách đứng lên tranh đấu thì sẽ gây nhiều nguy cơ cho chế độ cai trị gia trưởng của mình, nên Phèo ta quyết dẹp trò chửi rủa. Một mặt hắn bảo với dân làng: "Các con hãy về đi, chuyện anh Hạc đã có cha Chí đây lo. Các con cứ ăn no ngủ kỹ. Mai mốt trâu sẽ tự động về nhà. Đừng tụ tập chửi bới kẻo bị đám con cháu Bá Kiến lợi dụng, làm mất hòa khí giữa Vũ Đại ta và anh Hạc. Thằng Kiến thì các con biết rồi đấy. Nó ác, dâm, đểu. Nó là thằng khốn nạn. Các con phải nhớ điều ấy".

Cùng với lời khuyên giải như cha răn con, Phèo còn cho tay chân ra cổng làng giải tán dân chúng. Sau đó đi điểm mặt các nhân vật chủ chốt để tẩm quất. Hắn còn ra lệnh cho đám lâu la làm nghề đánh kẻng, gõ mõ, vác loa không được chửi Lão Hạc, không hùa theo dân đen, không cho bọn tàn quân Bá Kiến cơ hội lợi dụng, hãy ca ngợi tình đoàn kết giữa Chí Phèo và Lão Hạc.

Biện pháp của Phèo lần này cũng phát huy tác dụng. Vào những ngày tiếp sau đó, chẳng còn mống dân đen nào tụ tập trước cổng làng. Trò chửi bới Lão Hạc tuyệt nhiên không. Một vài kẻ dám ho khan, đánh rắm thì bị tay chân của Phèo đánh đập tơi tả.

Nhưng có một điều Phèo không nhận ra. Đó là giờ đây đã có thêm nhiều người ghét hắn. Đám cháu chắt Bá Kiến đã đành, đám bợm nhậu bị thất sủng chẳng nói làm chi. Ngay trong số dân đen từng tin Phèo vô điều kiện giờ cũng có thêm nhiều người nghi ngờ hắn, thậm chí oán hắn.

Phèo đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để tập hợp dân chúng xây dựng làng Vũ Đại giàu mạnh khiến Lão Hạc không còn dám làm càn.

Giờ đây Phèo đang rất cô độc. Hắn không còn tâm trí nghĩ đến chuyện đòi lại đàn trâu nữa.


Tập 2

Sau khi dẹp được đám dân làng chửi rủa Lão Hạc, Phèo ta rất khoái chí. Chưa bao giờ hắn thấy rõ được uy quyền của mình như thế này. Giữa lúc hắn đang giương giương tự đắc thì ái thiếp Thị Nở tâu lên:

"Bẩm quan lớn, quan lớn biết tại sao đám dân đen có thể làm loạn không?"

"Ơ, con này hỏi kỳ... Thế tại sao nào?"

"Bẩm, tại chúng biết nói."

"Ơ, người thì phải biết nói chứ."

"Dạ bẩm, tại chúng biết nói nên chúng mới liên hệ với nhau được. Tại chúng biết nói nên chúng mới chửi anh Hạc được. Tại..."

"Thôi...", Phèo đập bàn quát lớn. Đây chính là điều Phèo hiểu rõ nhất. Ngày xưa nếu bị câm thì hắn đã không thể tru tréo trước cổng nhà Bá Kiến mỗi ngày được rồi. Phèo hiểu rõ rằng chính trò chửi bới liên hồi đó đã khiến lão Kiến hết chịu nổi mới dẫn đến trận thư hùng trước nhà Chị Dậu năm nào. Kết cục là Chí Phèo đả bại Bá Kiến để điều hành làng Vũ Đại. Nếu Phèo không biết nói, không thể chửi rủa thì hắn đã không có ngày hôm nay. Quả thực tiếng nói là một thứ vũ khí nguy hiểm.

"Hay!", Phèo thét lên khiến Thị Nở giật nảy mình. "Giỏi, ngươi đúng là ái thiếp của ta. Ngươi đúng là con đàn bà tóc dài mà đầu cũng dài hiếm hoi trên thế gian này. Ngươi chẳng những biết nấu cháo hành mà còn biết trò chơi quyền lực".

Thị Nở bẽn lẽn: "Hổng dám đâu." Đoạn ả nói tiếp: "Thế quan lớn sẽ làm gì nào?"

"Ngươi không phải dạy khôn ta. Ta tự có cách."

Ngay ngày hôm sau, Chí Phèo ra bố cáo bắt dân làng Vũ Đại không được nói, phải câm hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ bị cắt lưỡi. Chỉ có Phèo và đám cận thần mới có đặc quyền nói.

Kể từ giờ phút đó làng Vũ Đại im ắng như bãi tha ma. Từ đầu đến cuối làng, người ta gặp nhau chỉ gật gật vài cái coi như "chào xã giao". Lũ trẻ con có lỡ khóc ré lên thì bố mẹ chúng vội vàng dùng tay bịt miệng, lấy giẻ nhét vào hoặc, áp dụng công nghệ hóa màu, dùng băng keo dán miệng. Cũng có vài trường hợp bức bối quá chịu không nổi, ho khan vài tiếng, thế là bị đám thuộc hạ của Phèo cắt lưỡi ngay lập tức.

Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì cậu Nam Cao ở cuối làng nghĩ ra một chiêu mới để lách luật: đánh rắm. Số là Chí Phèo chỉ ra lệnh cấm nói chuyện nên việc đánh rắm không bị coi là phạm pháp. Thế là dân Vũ Đại chuyển qua đánh rắm thay cho nói. Người ta quy ước đánh một phát có nghĩa là "hello", đánh hai phát là "good bye", ba phát là than vãn, bốn phát là chửi thề. Vân vân và vân vân.

Phong trào đánh rắm phát triển đến mức nhiều người luyện được các chiêu thức thượng thừa. Người ta chẳng những có thể đánh các câu đơn giản như "chào bác", "chào cô" mà còn có thể đánh "tôi ghét lão Phèo", "lão Phèo thật độc ác". Có người đánh một lúc được vài trăm phát là chuyện thường, y như bắn súng liên thanh vậy. Lũ trẻ con mới mở mắt cũng học đánh rắm. Tình hình đánh rắm tại làng Vũ Đại phải nói là "trăm hoa đua nở", đủ thứ âm thanh, mùi vị, thậm chí màu sắc nữa.

Chuyện này làm cho Phèo và đám thuộc hạ đau đầu nhức óc. Cấm đánh rắm chăng? Phèo phân vân không biết xử trí thế nào. Giữa lúc đó Thị Nở xuất hiện. Thị Nở lâu nay luôn hiện ra đúng lúc và mang theo nhiều phương án cứu rỗi đời Phèo, thuở cơ hàn thì bát cháo hành hoặc cái bánh bèo nhão nhoẹt của thị, còn lúc Phèo có quyền lực thì Nở tư vấn các giải pháp quản lý xã hội vĩ mô.

"Phải cấm dân làng đánh rắm thôi", Phèo phán.

"Ấy chết, cấm nói thì được, cấm đánh rắm thì không. Không nói người ta vẫn có thể sống, còn không đánh rắm thì chỉ có nước vỡ bụng mà chết", Nở phân tích. Thị còn nói với Phèo rằng nếu cấm dân đánh rắm thì làng Vũ Đại sẽ bị các làng bên, trừ làng Lão Hạc, phê phán là gia trưởng, độc tài. Lỡ có ai đó vỡ bụng chết vì ứ hơi thì Phèo sẽ bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Thế nên tuyệt đối không được cấm đánh rắm.

"Thế phải làm thế nào?", Phèo hỏi.

"Phải siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm", Nở thì thào vào tai Phèo. Sau đó Nở còn nói nhiều thứ nữa, nhưng chỉ cho một mình Phèo nghe thôi.

Ngay ngày hôm sau, Phèo ra bố cáo cho toàn dân làng Vũ Đại: Phàm là người thì ai cũng phải đánh rắm. Đó là quyền lợi thiêng liêng nhất. Làng không cấm. Nhưng do có nhiều kẻ lợi dụng việc đánh rắm để phá hoại trị an nên từ nay làng sẽ siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm. Tất cả mọi người chỉ được đánh rắm ở mức độ vừa phải và rắm phải thơm. Ai đánh rắm to, thối sẽ bị phạt nặng. Ai vi phạm nhiều lần sẽ bị trát lỗ đít, khỏi đánh rắm luôn.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, Phèo thành lập một nhóm đặc nhiệm với thành viên là các bợm nhậu biết điều từng vào sinh ra tử với hắn ở tất cả quán xá trong làng. Ngày ngày đám này đi khắp làng dỏng tai lên nghe xem có ai đánh rắm lớn, lâu lâu lại khịt khịt mũi xem kẻ nào đánh rắm thối để đem ra trừng trị.

Kể từ đó hoạt động đánh rắm ở làng Vũ Đại đi vào khuôn phép thấy rõ. Các cao thủ đánh rắm trong làng không còn đất dụng võ. Bí quyết đánh rắm từng chuỗi dài như bắn súng máy ngày càng mai một, đi dần đến chỗ thất truyền.

Tập 3

Cai quản cái làng Vũ Đại xem ra không đơn giản tí nào. Ngồi trên chiếc ghế quyền lực được một thời gian, Chí Phèo nghiệm ra điều đó. Nhất là thi thoảng các làn sóng chống Phèo lại nổi lên, lúc thì ở đầu làng, lúc khác ở cuối làng. Chiếc ghế của Phèo lung lay thấy rõ. Để bảo vệ quyền lợi, Phèo ta liền tăng cường bộ máy quản lý. Phàm là anh em họ hàng nhà Phèo, phàm là bạn bè thân hữu của Phèo đều có một chân trong đó. Sức mạnh của Phèo vì thế được củng cố bội phần.

Ấy thế nhưng cái đám mà Phèo cất nhắc lên đều là một lũ dốt đặc. Mà ông trời oái ăm, phàm kẻ nào dốt thì kẻ đó tham thậm. Thế là chẳng bao lâu, trong bộ máy lãnh đạo của Phèo, cảnh ăn chia, đục khoét, nhũng nhiễu, tranh giành diễn ra ngày càng mãnh liệt. Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì đám dân đen chịu hết nổi, bèn hùa nhau chửi bới om sòm. Giữa lúc tình hình quá sức cấp bách, Phèo ta triệu ái thiếp Thị Nở vào.

"Thưa, quan lớn cho gọi thiếp ạ!"

"Hừm, mấy hôm nay long thể ta bất an."

"Ai mà dám quấy rối quan lớn thế? Thưa, có phải do cái đám dân đen làm loạn không ạ?"

"Không sai. Ta đang tính đến chuyện bắt nhốt hết đám dân ba trợn ở cái làng Vũ Đại này lại", Phèo nghiến răng.

"Ấy chết, ai lại làm thế. Thời buổi văn minh này mà làm thế thì thiên hạ chửi cho. Ngay cả Lão Hạc cũng chưa dám mạnh tay thế, huống hồ...", Nở hấp tấp can ngăn.

"Thế phải làm sao? Ta mệt mỏi với cái trò chơi quyền lực này quá rồi. Làm thằng lưu manh suốt ngày rượu thịt chó và chửi rủa chắc khỏe hơn", Phèo cằn nhằn.

"Ấy, quan lớn chớ vội nản. Làm thằng lưu manh thì đâu có cung tần mĩ nữ, đâu có sơn hào hải vị, đâu có tiền hô hậu ủng như thế này được chứ. Vẫn còn cách dẹp lũ dân đen mà..."

"Cách gì? Nói nghe coi".

"Phải bắt vài đứa ạ?"

"Bắt? Chẳng phải ngươi nói là đừng có bắt người sao!"

"Bắt ở đây là bắt người nhà mình ấy. Phải thí vài con tốt thì đám dân đen mới hết nổi loạn. Sau một thời gian tình hình êm thấm rồi thì thả ra", Nở thủ thỉ.

"Hay!", Phèo đứng dậy, đập bàn quát lớn. "Ta đúng là không nhìn lầm ngươi. Từ thuở còn nằm ở cái lò gạch và ăn cháo hành cầm hơi, ta đã thấy được ngươi có tài thao lược. Hừm, nhưng bắt ai bây giờ?"

"Dạ, cứ bắt một vài đứa thân cận với quan lớn. Như vậy bọn dân đen nó sẽ dễ tin rằng quan lớn công minh.".

Ngày hôm sau, Phèo thực thi ngay kế sách của Nở. Hắn cho đám lính lệ gông cổ hai tên tay chân là Lý Toét và Xã Xệ nhốt vào đại lao. Sự chống đối trong dân chúng theo đó vơi bớt đôi phần. Uy tín của Phèo ngay lập tức trỗi dậy như củ cà rốt trong quần hắn khi thấy Thị Nở tắm dưới sông bên cái lò gạch cũ thuở nào. Một số tay làm nghề đánh trống gõ mõ vốn gần đây nảy sinh tâm lý chán ghét trò nhũng nhiễu trong bộ máy chính quyền cũng nhân dịp này đua nhau vạch mặt Lý Toét và Xã Xệ. Nào là chuyện tiệc tùng gái gú; nào là chuyện nhà lầu xe hơi; nào là chuyện cờ gian bạc lận; nào là chuyện lừa dưới dối trên của Lý Toét, Xã Xệ đều được công bố cho toàn dân làng Vũ Đại biết. Phen này hai gã Toét Xệ chắc chết đến nơi, chả còn đường nào sống được.

Bẵng đi một thời gian, khi dân làng hầu như đã quên mất chuyện cũ, đùng một cái Phèo cho tay chân dán bố cáo khắp làng. Bố cáo ghi rằng sự thật là Lý Toét chẳng phạm tội gì. Việc bắt giữ trước kia là nhầm lẫn, cũng một phần do chính quyền bị sức ép của dư luận. Xã Xệ thì cũng có một vài tội trạng nhưng không đáng kể, tạm thời ở lại trong tù.

Vào một ngày đầu hạ, khi gã mặt trời hiếu chiến vừa hắt ánh nắng chói chang xuống làng Vũ Đại, người ta thấy Lý Toét bước ra từ khám lớn. Miệng hắn cười tươi như hoa vẫy chào đám dân chúng đang há hốc mồm đứng nhìn, nhưng ẩn sâu trong mắt hắn là một tia hằn học. Vừa bước ra khỏi cánh cổng sắt, hắn đe: "Mọi ân oán phải được thanh toán sòng phẳng".

Khi Lý Toét vừa được trả tự do, người ta thấy một loạt tay làm nghề đánh trống gõ mõ trước kia từng chửi bới cặp bài trùng Toét - Xệ mặt xanh như đít nhái. Dân làng Vũ Đại vốn rất lanh trí, biết ngay chuyện gì sẽ xảy ra. Ngay ngày hôm sau, Phèo cho lính lệ đi bắt đám đánh trống gõ mõ này nhốt vào đại lao. Tội của họ được viết rõ trên tờ bố cáo rằng: vu khống Lý Toét nhằm phá hoại uy tín của lãnh đạo làng Vũ Đại.

Một đêm trăng thanh gió mát, trong hậu cung ở đình làng vốn được xây trên nền lò gạch cũ năm xưa, Nở áp má lên đùi Phèo thủ thỉ: "Trò chơi quyền lực tuy nhọc trí nhưng quan lớn đừng nản. Thuở cơ hàn, quan lớn sắp chết đói mới có được bát cháo hành cầm hơi. Giờ quan lớn dù phải lao tâm khổ tứ nhưng rượu thịt đầy nhà, muốn ái ân với thiếp cũng không cần phải thậm thụt nơi bụi chuối bờ ao nữa."

Trong khi cơn say tình ái còn ngây ngất, Phèo rì rầm: "Ta vẫn không hiểu sao ngươi lại cho bắt đám đánh trống gõ mõ kia. Làm thế chẳng phải là đánh động dư luận thêm sao?"

"Phải bắt chứ quan lớn. Phải răn đe để mấy cái mầm nổi loạn không còn dám ngóc đầu dậy. Vả lại cho thằng Toét ra thì phải có mấy thằng chịu tội thay nó chứ. Thằng Toét mà vô tội thì những thằng tố cáo nó phải có tội. Tính nghiêm minh của pháp luật là ở chỗ đó", Nở cười rúc rích, đoạn cắn nhè nhẹ vào bắp đùi Phèo.

Phèo hét lên, tiếng hét man dại đẫm mùi hoan lạc. Đã từ lâu sống trong nhung lụa nhưng Phèo và Nở vẫn giữ kiểu ái ân cắn xé cấu véo như loài thú. Trò ái ân hoang dã này vốn đã theo họ từ thuở cơ hàn nơi lò gạch cũ.


Tập 5

Những cuộc nổi dậy liên miên của lũ dân đen, đám trí thức, bọn con cháu Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo rơi vào trạng thái căng thẳng tột độ. Hắn suốt ngày uống rượu và động phòng hoa chúc với Thị Nở để quên đi phiền muộn. Lúc không thể giao hoan và có chút tỉnh táo, lòng hắn lại cồn cào tiếc nhớ những ngày tháng tươi đẹp thuở xưa.

Ngày xưa...

Ấy là khoảng thời gian sau khi Chí Phèo vừa đánh gục lão Bá Kiến để tiếp quản ghế lãnh đạo làng Vũ Đại. Hồi đó hầu hết dân chúng đều coi hắn là một trang anh hùng. Cũng có vài vụ ăn cắp, ẩu đả nhưng nhìn chung tình hình êm ấm. Hắn suốt ngày ngồi rung đùi uống rượu bên cạnh ái thiếp Thị Nở mà chả cần phải chửi bới hét hò gì cả.

Hắn nhớ, vào một ngày nọ, hình như vừa chớm hè thì phải, Lão Hạc ở làng bên đùng đùng dắt theo một đàn chó vàng sang. Lúc đó hắn đã ngà ngà say và đang chuẩn bị cho một màn mây mưa với Thị Nở thì Lão Hạc chẳng nói chẳng rằng chạy xộc vào, quơ tay lấy hũ rượu giữa chiếu tu ừng ực, đoạn khà một tiếng rõ dài.

- Rượu ngon, rượu ngon! Nhưng không thể uống lâu được.

Phèo giật bắn mình, trợn mắt hỏi:

- Sao cơ? Sao lại không thể uống lâu?

Đối với Phèo, Lão Hạc là ân nhân. Chính nhờ bã chó của lão mà Phèo đã có được ngày hôm nay. Hồi đó, sau khi phang một bình rượu vào giữa mặt Bá Kiến, Phèo đã vật đối thủ ra đất và nhét bã chó vào miệng. Thế là chỉ trong vòng ba nốt nhạc, Bá Kiến đã về gặp Cắc Mắc, Lê Ninh.

Giờ đây, Phèo thấy chột dạ khi nghe Lão Hạc phán như thế. Linh tính báo cho hắn biết dường như có chuyện chẳng lành chứ chả chơi.

Phèo cứ trố mắt đứng nhìn. Còn Lão Hạc thì cứ đi qua đi lại, hai tay chắp sau lưng, hết ngó bàn rượu lại nhìn thẳng vào mặt Phèo, đoạn đưa tay lên gãi cằm:

- Nếu ngươi không lo quản thúc đám dân chúng, e rằng... no say cũng chỉ một vài trống canh mà thôi.

Phèo há hốc mồm, vẫn chưa hiểu Hạc tiền bối nói gì.

- Ngươi tưởng rằng đám dân đen sẽ nhắm mắt phục tùng ngươi mãi chắc. Ngươi tưởng rằng đám con cháu Bá Kiến đã hết thù hận rồi chắc.

- Ơ, vậy… vậy phải làm sao bây giờ?

- Hừm, ngày mai ngươi cho con Nở qua chỗ ta, ta sẽ chỉ cách.

Sáng hôm sau, Nở ngậm ngùi chia tay Phèo, khăn gói trực chỉ phương bắc. Vó ngựa rong ruổi dặm trường, lòng nữ nhi bồi hồi khi ngắm nhìn cảnh làng xóm thanh bình, lam lũ. Băng qua mấy triền đồi, vài con suối, thị đã đến được ngôi làng to đồ sộ của Lão Hạc. Đám gia nhân chờ sẵn ở gốc đa đầu làng rước Nở thẳng về đình để yết kiến Hạc đại nhân. Kể từ giờ phút đó, trong suốt bảy lần bảy bốn chín ngày, Lão Hạc không giờ phút nào rời Nở. Ban ngày thì lão dẫn Nở đi thăm thú làng xóm, coi dân tình làm lụng, sinh hoạt hoặc đích thân giảng cho Nở các biện pháp quản lý làng nước. Ban đêm thì lão bế Nở vào phòng trong, mây mưa gió bão.

Sau chừng ấy thời gian, hương đồng gió nội xem ra đã vơi đi ít phần, Nở lưu luyến chia tay Lão Hạc để trở về với vòng tay của Chí Phèo đang ngày đêm mở rộng đón chờ. Vừa bước vào cổng làng, Nở ngạc nhiên bắt gặp nhiều đứa dân đen tụm năm tụm ba bù khú, rõ ràng là không chịu làm việc. Có mấy đứa gặp Nở mà như không nhìn thấy gì, có đứa còn đánh rắm thối um trước mặt Nở. Thị tức lắm, về mách Phèo:

- Thưa quan lớn, đám dân đen bắt đầu trễ nải công việc. Cứ đà này thì chẳng bao lâu nữa chúng sẽ làm loạn.

- Hức, anh Hạc quả là thần cơ diệu toán. Giờ, giờ… làm sao nào?

- Thưa, quan lớn không phải nhọc lòng. Trước mắt là cứ lùa bọn chúng vào hợp tác xã. Cho chúng ăn ít, làm nhiều. Đứa nào lười nhác sẽ bắt nhốt tù, không cho ăn.

Ngay hôm sau, Phèo lập tức áp dụng kế sách của Nở, lùa hết dân làng Vũ Đại vào hợp tác xã. Hắn còn cắt cử vài thằng đầu trộm đuôi cướp đứng ra quản lý đám dân đen, cứ đứa nào lười nhác, có ý làm loạn là đánh thẳng tay. Làng Vũ Đại vì thế đi vào nề nếp thấy rõ. Từ đầu đến cuối làng người người hăng hái lao động. Tối đến họ tụ tập nơi đình làng để hát múa, ca ngợi quê hương giàu mạnh thanh bình.

Trong khi đám dân đen đang hăng say cấy cày, thì nơi hậu cung, Nở lại thủ thỉ vào tai Phèo:

- Thưa quan lớn, tiện thiếp chợt nhớ đến chuyện này.

- Còn chuyện gì nói nốt rồi đi ngủ. Ta lại muốn nữa rồi. - Hồi đi du học, thiếp nghe nói một đệ tử của Lão Hạc là Kim Dung đã bào chế ra loại thuốc độc gọi là “tam thi não thần đan”. Thuốc này mà cho ai uống là người đó phải tuyệt đối trung thành. Nếu có lòng làm phản, đến khi thuốc phát tác, chủ nhân không cho thuốc giải thì chỉ có nước đau quằn quại đến chết mà thôi. Nhờ thuốc đó mà anh Hạc cai quản cả cái làng to tướng một cách dễ dàng. - Hừm, nếu có loại thuốc ấy cho đám dân đen làng Vũ Đại uống thì hay biết mấy. Sao ngươi không hỏi xin anh Hạc? - Thiếp đã hỏi, nhưng lão nói hết rồi. Thiếp cũng cố lục tìm xem trộm công thức bào chế mà không được. - Hừm, thật là vô tích sự quá đi. - Thưa, quan lớn chớ cả giận mà hại đến long thể, dương khí hao mòn, lại khổ thiếp. Thưa, vẫn còn có cách khác ạ. - Cách gì? Nói mau. Sao ngươi cứ úp úp mở mở thế. - Thiếp trộm nghĩ, là người thì ai mà chẳng uống nước, ăn cơm. Nếu ta cấm ăn uống thì họ chỉ có đường chết. - Như thế không phải giết sạch đám dân đen sao. - Không hẳn thế. Theo thiếp thì phàm cái gì cần kíp cho cuộc sống thì ta làm một tấm thẻ bài phát cho dân chúng để quản lý, như thẻ cơm, thẻ nước, thẻ đi ỉa, thẻ đi đái… Đứa nào được ta phát thẻ thì mới được phát cơm, được lấy nước, được đi tiêu, đi tiểu. Đứa nào lười nhác, phản trắc, ta chỉ cần tịch thu thẻ là nó hết đường sống. Khi ta nắm trong tay tính mạng của tất cả đám dân làng, thử hỏi có đứa nào dám làm phản nữa. Thế chẳng phải là “tam thi não thần đan” cũng phải gọi bằng bà cố sao. - Ai dà, diệu kế, diệu kế. Ngươi đúng là, đúng là… vợ của Gia Cát Lượng. Có ngươi bên mình thì ta còn lo gì, chẳng những ái ân được thỏa mãn mà chuyện quản lý cái làng cỏn con này cũng dễ dàng. Phèo liền đem kế sách của Nở ra áp dụng. Khắp làng Vũ Đại, phàm là ai sở hữu cái gì có giá trị đều bị trưng thu, từ ruộng đất, trâu bò cho đến nhà cửa. Đoạn hắn phát cho dân những tấm thẻ. Cứ đến kỳ hạn thì dân vác thẻ lên đình làng nhận thóc, nhận nước, nhận áo quần. Ai làm mất hoặc bị tịch thu thẻ thì chỉ có nước chết dần chết mòn vì đói, vì khát, vì mắc ỉa mà thôi. Dân chúng vì thế coi tấm thẻ quý hơn tính mạng, đi đâu cũng mang thẻ theo, đêm về thì đặt thẻ lên bàn thờ. Uy lực khủng khiếp của tấm thẻ đã mang đến sự thanh bình cho làng Vũ Đại. Chí Phèo và Thị Nở nhờ đó mới có nhiều thời gian để chè chén, ái ân. Thật là, Sau hồi chập chững trị làng Chí Phèo Thị Nở lại càng cao tay Nhưng đó là chuyện của nhiều năm về trước. Giờ đây, chính sách ngu dân và bần cùng hóa của Phèo đã không còn tác dụng. Đám dân đen làng Vũ Đại càng ngày càng khôn ra, chúng đua đòi, a dua với mấy làng bên, bao phen làm cho quyền lực Phèo lung lay tận gốc. Phèo khổ tâm lắm. Chiều nay, ngồi một mình trong hoan phòng, nơi từng bao lần chứng kiến những cuộc mây mưa điên cuồng của hắn và Nở, Phèo thở dài: - Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu! Tập 6 Chỉ trong vòng vài năm mà đám dân đen đã nổi loạn nhiều lần, buộc Phèo phải đối phó hết vụ này đến vụ khác, mệt bở hơi tai. Đặc biệt cuộc binh biến bất thành của đám đánh trống gõ mõ theo sau vụ bắt giữ hai gã Hoàng Độ đã khiến Chí Phèo nhận ra nguy cơ to lớn treo lơ lửng trên đầu bộ máy cai trị của hắn. Kiểu này chắc cũng sẽ có lúc kiệt sức mà chết thôi. Phèo cứ thở dài thườn thượt suốt ngày, rồi lại uống rượu, rồi lại giao hoan, rồi lại tiếc nhớ quá khứ êm đềm. - Không được, phải lập lại trật tự thôi. Phải phát hành lại thẻ cơm, thẻ nước, thẻ đái, thẻ ỉa, hừm, phát hành thêm cả thẻ thở nữa. Phèo nghiến răng, đập bàn rồi thét lên. Giữa lúc đó, Nở nhẹ nhàng đến bên thỏ thẻ: - Ấy, quan lớn, thời nay ai lại làm thế, thiên hạ chúng chửi cho, với lại bọn dân đen nó sẽ vùng lên chống đối nếu ta siết chặt quá. - Thế phải làm thế nào? Chẳng lẽ suốt ngày cứ đi đối phó hết vụ này đến vụ khác à? Vậy thì còn đâu thời gian mà uống rượu, mà ân ái với ngươi nữa. - Hic, cần phải có một biện pháp quản lý vĩ mô ạ. Thiếp đang nghĩ tới một giải pháp... - Cái gì? Nói nghe coi! - Giải pháp này cần phải kiên trì, hơi tốn kém nhưng rất hiệu quả. Số là thiếp thấy bọn dân chúng ngày một khôn ra, ta làm việc gì chúng cũng nghi ngờ, có thể nói là chúng đã mất niềm tin trầm trọng. Ta phải có biện pháp gieo cấy niềm tin vào đầu chúng. Phải làm chúng tin vào quan lớn như con tin cha, như người ta tin vào Ngọc hoàng. - Như vậy nghĩa là sao? - Thưa, nghĩa là quan lớn làm Ngọc hoàng ạ. - Ta ư? Ta làm ông Trời ư? - Đúng thế, chúng ta phải có một chiến dịch pờ rờ hoành tráng, để trong mắt, trong não, trong tim đám dân đen, quan lớn là Ngọc hoàng. Vua chúa ngày xưa cao lắm cũng mới là Con Trời, còn giờ quan lớn là Trời. Dân chúng làm sao dám chống lại Trời được. - Ái dà, hay đây. Làm Trời chắc sướng phải biết. Nhưng Trời có uống rượu và... làm chuyện ấy được không? - Có chứ ạ. Quan lớn thấy có chân trời, mặt trời, lại có cả lưng trời, bầu trời nữa. Vậy thì Trời cũng là người thôi. - Được, tốt lắm. Thi hành kế này đi, càng nhanh càng tốt. Theo kế sách của Nở, đám lính lệ lập tức đi khắp làng xây đền, dựng tượng Chí Phèo. Phàm là miếu mạo đền đài có từ thời trước, bọn chúng đều dời tượng thánh tượng thần ra để đặt tượng Phèo vào. Ngay cả miếu thành hoàng đầu làng chúng cũng xây tượng Phèo ngồi chễm chệ ở gian giữa. Hình ảnh Phèo có mặt ở khắp nơi. Tiếp đó, đám lâu la còn bắt tất cả các hộ gia đình phải treo hình, thờ tượng Phèo. Song song với chuyện đền đài miếu mạo, Nở còn sai đám bồi bút sáng tác hàng loạt tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, hò vè ngợi ca công lao Phèo. Hình ảnh Phèo “vừa đi vừa chửi” năm xưa dưới ngòi bút thiên tài của đám văn sĩ làng Vũ Đại bỗng chốc trở thành một vị thánh đi rao giảng đạo lý cho chúng sinh. Hình ảnh Phèo tự cầm mảnh chai rạch mặt được giải thích là hành động chịu cực hình thay cho dân chúng. Còn cái bình rượu mà Phèo đập vào đầu Bá Kiến giờ trong các cơ sở dữ liệu tại đình làng đều ghi là cây thánh trượng trừ tà. Chuyện Phèo ẩu đả với Bá Kiến thuở xưa giờ được miêu tả chẳng khác gì Lục Vân Tiên đánh bạt bọn lục lâm thảo khấu để cứu cô em Kiều Nguyệt Nga xinh đẹp. Ngay thực tế mà ai cũng biết là Phèo vốn là một đứa con hoang bị vứt nơi lò gạch, giờ người ta cũng sáng tác thành truyện Phèo được sinh ra từ viên đá nhiệm mầu, y như con khỉ Tôn Ngộ Không vậy. Các văn sĩ đại tài của làng Vũ Đại còn được huy động chấp bút viết những lời Phèo răn dạy dân chúng. Những câu chửi điên loạn của Phèo, những lần hắn ho khan, đánh rắm đều được đám bồi bút biến hóa thành danh ngôn hoa mỹ. Số tài liệu này sau đó được đóng thành tập lớn, phân phát tới mỗi gia đình trong làng Vũ Đại. Phèo ra bố cáo bắt toàn dân phải học thuộc các lời răn dạy của hắn. Trẻ con mới nứt mắt đã phải học. Cha mẹ chúng càng phải học dữ dội hơn. Tất cả con dân làng Vũ Đại đều phải thuộc nằm lòng các câu chuyện của Phèo như giáo dân thuộc Kinh Thánh. Có chỗ nào khó hiểu, rối rắm, vô lý cũng không được cãi. Chỉ việc học thuộc như lũ vẹt học tiếng người thôi. Đám hát xẩm cuối làng thì được huy động sáng tác bài hát ca ngợi Phèo. Dần dà, các bài hát này trở thành làng ca, thánh ca. Trẻ con mới nứt mắt đã biết hát về Phèo, nhờ học được từ lời ru của mẹ. Từ thế hệ này qua thế hệ khác, hình ảnh của Phèo như một vị thánh cứ thấm dần, thấm dần vào não bộ đám dân đen Vũ Đại. Dần dà, Phèo chiếm lĩnh toàn bộ đời sống tinh thần, tâm linh của dân chúng. Phèo đã trở thành Ngọc hoàng thực thụ. Còn đám dân đen làng Vũ Đại là những tín đồ phục tùng Ngọc hoàng vô điều kiện, tin tưởng Ngọc hoàng tuyệt đối. Thi thoảng cũng có một vài kẻ bạo gan, hoặc là do say rượu, hoặc là do bị ai đó bên ngoài kích động, lên tiếng chỉ trích Phèo. Ngay lập tức, đám tay chân bặm trợn của Phèo gô cổ bọn chúng lại, đưa ra giữa làng đấu tố, rồi kết tội bọn đó là dị giáo, là phản động, rồi đưa lên giàn hỏa thiêu. Nướng mọi. Đến lúc này thì làng Vũ Đại đã trở thành thánh địa của một giáo phái mà Phèo là đấng tối cao còn dân chúng là những sinh linh bé bỏng nằm dưới sự che chở của hắn. Lại một đêm trăng thanh gió mát, khi đám dân làng đang tụ tập bên ngoài sân đình, tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng hát hòa quyện vào nhau thành một dàn hợp xướng hùng tráng, du dương, thì nơi hậu cung, Nở lại rúc đầu vào bụng Phèo thủ thỉ: - Giờ thì quan lớn đã có thể ăn no ngủ kỹ, đám dân đen sẽ không làm phản được nữa đâu. Phàm là người thì có ai dám chống lại Trời cơ chứ. Phèo cười: - Ngươi nghĩ ra lắm trò hay. Có như thế này ta mới rảnh rang mà mây mưa với ngươi được chứ. Nở "ứ ừ" một tiếng đầy dâm dật, đoạn thích nhẹ vào vùng thịt non nơi bắp đùi Phèo. Phèo rên lên sung sướng. Từ hoan phòng, tiếng rên lọt qua khe cửa rồi chu du tới sân đình. Đám dân cuồng tín tưởng đó là tiếng dạy của đấng bề trên giáng thế, vội sụp xuống lạy tạ và lầm rầm đọc những câu trong sách ca ngợi Chí Phèo.
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Quang Trung's Blog - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Inspired by Sportapolis Shape5.com
Proudly powered by Blogger